Những điểm mới trong công tác thi hành án treo
Luật thi hành án hình sự đã cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp năm 2013 về quyền con người, quyền công dân, các quy định mới của Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Bộ Luật Tố tụng hình sự 2015 và pháp luật khác có liên quan; kế thừa các quy định còn phù hợp, bổ sung các quy định mới để khắc phục những tồn tại, khó khăn, vướng mắc sau hơn 08 năm thực hiện Luật Thi hành án hình sự năm 2010.

Thời gian qua, Công an huyện Cẩm Giàng đã tổ chức thực hiện có hiệu quả công tác thi hành án hình sự nói chung trong đó thi hành án treo nói riêng. Ngoài tuân thủ các quy định của Bộ luật hình sự, Tố tụng hình sự, công tác thi hành án treo phải thực hiện nghiêm ngặt theo quy định của Luật thi hành án hình sự.

Ngày 14/6/2019, Quốc hội khóa XIV, kỳ họp thứ 7 đã thông quaLuật thi hành án hình sựcó hiệu lực từ ngày 01/01/2020. Luật thi hành án hình sự đã cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp năm 2013 về quyền con người, quyền công dân, các quy định mới của Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Bộ Luật Tố tụng hình sự 2015 và pháp luật khác có liên quan; kế thừa các quy định còn phù hợp, bổ sung các quy định mới để khắc phục những tồn tại, khó khăn, vướng mắc sau hơn 08 năm thực hiện Luật Thi hành án hình sự năm 2010.

Để kịp thời tuyên truyền về một trong những điểm mới cơ bản của Luật Thi hành án hình sự năm 2019, Công an xã Cẩm Vũ giới thiệu "Những nội dung mới trong công tác thi hành án treo" trên địa bàn huyện. Cụ thể:

Những nội dung mới trong công tác thi hành án treo

Trong những năm qua, thực hiện quy định của Luật Thi hành án hình sự 2010, các cơ quan, tổ chức được giao nhiệm vụ giám sát, giáo dục người bị phạt tù cho hưởng án treo trong thời gian thử thách có nhiều cố gắng và đạt được kết quả nhất định. Theo thống kê, đến tháng 3/2020, các cơ quan, tổ chức trên địa bàn huyện hiện đang giám sát, giáo dục người chấp hành án treo 58/74 đối tượng thi hành án tại cộng đồng (chiếm 78,4%), 58/ 905 người chấp hành án treo của cả tỉnh (chiếm 6,4%).

Việc thi hành án treo còn nhiều khó khăn, vướng mắc như:

- Nhiều trường hợp người chấp hành án treo vắng mặt, tự ý bỏ đi khỏi nơi cư trú mà không trình báo với các cơ quan quản lý, giám sát, giáo dục nên cơ quan thi hành án không thể triệu tập được. Chế tài xử lý vẫn còn nhẹ và chưa mạnh để răn đe đối với người cố tình lẩn tránh việc thi hành án.

- Theo quy định của Bộ luật hình sự 2015, người chấp hành sau khi hết thời gian thử thách án treo 1 năm, không thực hiện hành vi phạm tội mới thì đương nhiên được xóa án tích mà không căn cứ vào việc người đó thực sự chấp hành bản án đã tuyên hay không. Như vậy, giữa người chấp hành tốt và người không chấp hành có hậu quả pháp lý giống nhau.

- Quy định về giao cho ai là người quản lý, giám sát, giáo dục người chấp hành án treo còn chưa thống nhất. Bộ Luật hình sự 2015 giao cho cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc hoặc chính quyền địa phương nơi cư trú; Luật thi hành án hình sự 2010 giao cho Ủy ban nhân dân nơi cư trú.

Để phù hợp với các quy định củaBộ Luật hình sự 2015 và giải quyết một số khó khăn, vướng mắc trong quá trình thi hành án, Luật thi hành án hình sự 2019 đã sửa đổi, bổ sung một số quy định liên quan đến án treo như:

- Xử lý vi phạm đối với người hưởng án treo.

- Bổ sung nhiệm vụ của UBND cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục người đươc hưởng án treo.

- Quy định cụ thể các nghĩa vụ của người chấp hành án treo trong thời gian thử thách.

- Giải quyết những thiếu sót, bất cập trong việc quản ý, giám sát chấp hành án treo.

Cụ thể như sau:

1. Về quyết định thi hành án treo (Điều 84)

- Quyết định thi hành án treo phải ghi rõ nội dung, trừ hình phạt bổ sung là hình phạt tiền; hậu quả của việc vi phạm nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định tại khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự 2015.

- Tòa án phải gửi quyết định cho cả người đại diện trong trường hợp người được hưởng án treo là người dưới 18 tuổi và Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục người được hưởng án treo.

2. Về thi hành quyết định án treo (Điều 85)

Để giải quyết những trường hợp người bị phạt tù cho hưởng án treo không được thi hành vì người bị kết án vắng mặt, tự ý bỏ trốn khỏi nơi cư trú mà không trình báo với các cơ quan quản lý, giám sát, giáo dục nên cơ quan thi hành án không thể triệu tập đến thực hiện các thủ tục thi hành án. Điều 85 đã bổ sung:

- Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định thi hành án treo, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu phải triệu tập người được hưởng án treo, người đại diện (trong trường hợp người được hưởng án treo dưới 18 tuổi) đến trụ sở UBND xã nơi người đó cư trú, đơn vị quân đội nơi người đó làm việc để ký cam kết việc chấp hành án. Người được hưởng án treo, người đại diện của người được hưởng án treo phải có mặt theo giấy triệu tập, trừ trường hợp vì lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Trường hợp người được hưởng án treo không có mặt theo giấy triệu tập hoặc không cam kết thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu lập biên bản vi phạm nghĩa vụ.

- Khi nhận được quyết định thi hành án, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu lập hồ sơ thi hành án và sao gửi cho UBND cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục người được hưởng án treo.

- Giao UBND cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục người được hưởng án treo.

- Việc cấp giấy chứng nhận chấp hành xong thời gian thử thách củacơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu phải cấp giấy chứng nhận thời gian thử thách.

- Giải quyết trường hợp người được hưởng án treo chết: UBND cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục thông báo cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu để thông báo cho Tòa án đã ra quyết định thi hành án.

3. Về nhiệm vụ, quyền hạn của UBND cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục người được hưởng án treo (Điều 86)

Trên cơ sở kế thừa quy định của Luật thi hành án hình sự 2010 và có điều chỉnh quy định nhiệm vụ UBND cấp xã được giao giám sát, giáo dục người được hưởng án treo theo hướng cụ thể, gắn trách nhiệm của UBND cấp xã trong giám sát, giáo dục người chấp hành án. Các nội dung bổ sung:

- Lập hồ sơ, tổ chức giám sát, giáo dục người được hưởng án treo; bàn giao hồ sơ cho cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.

- Quy định trách nhiệm của UBND cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục trong việc đề nghị rút ngắn thời gian thử thách, quyết định buộc người chấp hành án treo vi phạm nghĩa vụ phải chấp hành án phạt tù, báo cáo người được hưởng án treo bỏ trốn, báo cáo quá trình chấp hành án của người được hưởng án treo và lưu hồ sơ giám sát, giáo dục kết quả thi hành án.

- Để phù hợp với quy định của Bộ Luật hình sự 2015, Luật thi hành án hình sự 2015 đã bỏ nhiệm vụ, quyền hạn xử phạt vi phạm hành chính hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính đối với người được hưởng án treo và giải quyết khiếu nại, tố cáo về thi hành án treo của UBND cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục người được hưởng án treo.

- Giao Trưởng Công an cấp xã có nhiệm vụ tham mưu, giúp UBND cấp xã tổ chức thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn nêu trên (khoản 2 Điều 86).

4. Nghĩa vụ của người được hưởng án treo (Điều 87)

Để phù hợp với quy định mới tại Điều 65 Bộ Luật hình sự 2015 về án treo và bảo đảm cho việc thi hành án treo có hiệu lực, hiệu quả khắc phục những hạn chế, vướng mắc trong công tác thi hành án treo, Luật thi hành án hình sự 2019 đã quy định nghĩa vụ của người được hưởng án treo theo hướng gắn nghĩa vụ của người được hưởng án treo với các nội dung giám sát, quản lý. Cụ thể:

- Có mặt theo giấy triệu tập và cam kết việc chấp hành án theo quy định tại khoản 1 Điều 85.

- Thực hiện nghiêm chỉnh cam kết trong việc tuân thủ pháp luật, nghĩa vụ công dân, nội quy, quy chế của nơi cư trú, nơi làm việc, học tập; chấp hành đầy đủ hình phạt bổ sung, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại, trừ những trường hợp khách quan được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận.

- Chịu sự giám sát, giáo dục của UBND cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi cư trú, làm việc.

- Chấp hành quy định tại điều 92 Luật thi hành án hình sự về việc vắng mặt tại nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc của người được hưởng án treo.

- Phải có mặt theo yêu cầu của UBNDcấp xã hoặc đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục,cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu.

- Hàng tháng phải báo cáo bằng văn bản với UBND cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục về tình hình chấp hành nghĩa vụ của mình. Trường hợp vắng mặt có lý do chính đáng phải thực hiện khai báo tạm vắng theo quy định của pháp luật cư trú. Thời gian vắng mặt tại nơi cư trú mỗi lần không quá 60 ngày và tổng số thời gian vắng mặt tại nơi cư trú không vượt quá một phần ba thời gian thử thách, trừ trường hợp phải điều trị tại cơ sở y tế theo chỉ định của bác sĩ và phải có xác nhận điều trị của cơ sở y tê đó, khi hết thời hạn vắng mặt, người được hưởng án treo phải báo cáo về tình hình chấp hành pháp luật của mình.

5. Về rút ngắn thời gian thử thách đối với người được hưởng án treo (Điều 89)

Luật thi hành án hình sự năm 2019 đã bổ sung Điều 89 quy định về rút ngắn thời gian thử thách đối với người được hưởng án treo trên cơ sở pháp điển hóa quy định tại Thông tư liên tịch số 08/2012/TTLT-BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC ngày 14/8/2012 của Bộ Công an, Bộ quốc phòng, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn về rút ngắn thời gian thử thách án treo. Cụ thể:

- Về điều kiện để người được hưởng án treo được đề nghị rút ngắn thời gian thử thách khi có đủ điều kiện: Đã chấp hành được một phần hai thời gian thử thách; chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, các nghĩa vụ theo quy địnhtại Điều 87 của Luật thi hành án hình sự năm 2019; tích cực học tập, lao động, sửa chữa lỗi lầm hoặc lập thành tích trong lao động, bảo vệ an ninh, trật tự được cơ quan nhà nước có thẩm quyền khen thưởng.

- Về tiêu chuẩn xét rút ngắn thời gian thử thách: Người được hưởng án treo chỉ được xét rút ngắn thời gian thử thách mỗi năm 01 lần, mỗi lần từ 01 tháng đến 01 năm. Trường hợp thời gian thử thách còn lại không quá 01 tháng thì có thể được rút ngắn hết thời gian thử thách còn lại. Người được hưởng án treo có thể được rút ngắn thời gian thử thách nhiều lần nhưng phải bảo đảm thực tế đã chấp hành ba phần tư thời gian thử thách.

- Đối với trường hợp người được hưởng án treo lập công hoặc bị bệnh hiểm nghèo và có đủ các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 89 thì Tòa án có thể rút ngắn hết thời gian thử thách còn lại.

- Đối với trường hợp người được hưởng án treo đã được rút ngắn thời gian thử thách nhưng sau đó vi phạm nghĩa vụ quy định tại Điều 87 và bị Tòa án quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo thì thời gian thử thách đã được rút ngắn không được tính để trừ vào thời gian chấp hành án phạt tù.

6. Về thủ tục rút ngắn thời gian thử thách đối với người được hưởng án treo (Điều 90)

Điều 90 Luật thi hành án hình sự 2019 đã cụ thể hơn về thẩm quyền, thủ tục rút ngắn thời gian thử thách:

- Bổ sung trách nhiệm của UBND cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục người được hưởng án treo trong việc rà soát người đủ điều kiện để báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu đề nghị xét rút ngắn thời gian thử thách, trường hợp xét thấy không đủ điều kiện lập hồ sơ rút ngắn thời gian thử thách, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu có văn bản thông báo cho UBND cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục người được hưởng án treo.

- Rút ngắn thời gian xem xét từ 15 ngày xuống 07 ngày từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị rút ngắn thời gian thử thách, Chánh án Tòa án nhân dân cấp huyện, Chánh án Tòa án quân sự khu vực nơi người được hưởng án treo cư trú hoặc làm việc phải thành lập Hội đồng và quy định cụ thể thành phần, số lượng Hội đồng.

- Hồ sơ đề nghị rút ngắn thời gian thử thách bao gồm: Đơn đề nghị rút ngăn thời gian thử thách của người được hưởng án treo, bản sao bản án. Đối với trường hợp xét rút ngắn thời gian thử thách từ lần 2 thì bản sao bản án được thay bằng bản sao quyết định thi hành án treo; văn bản đề nghị rút ngắn thời gian thử thách củaUBND cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục người được hưởng án treo; trường hợp người được hưởng án treo được khen thưởng hoặc lập công thì hồ sơ phải có quyết định khen thưởng hoặc giấy xác nhận của cơ quan có thẩm quyền về việc người đó được hưởng án treo lập công; trường hợp bị bệnh hiểm nghèo thì phải có kết luận của bệnh viện cấp tỉnh, bệnh viện cấp quân khu trở lên về tình trạng bệnh của họ.

7. Thực hiện việc kiểm điểm người được hưởng án treo (Điều 191)

- Khác với quy định của Luật Thi hành án hình sự 2010, trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo vi phạm nghĩa vụ quy định tại Điều 64 Luật thi hành án hình sự 2019 và đã bị nhắc nhở từ hai lần trở lên mà tiếp tục vi phạm nhưng chưa đến mức phải chịu trách nhiệm hình sự thì UBND cấp xã được giao giám sát, giáo dục phải phối hợp với cơ quan, tổ chức, Mặt trận Tổ quốc ở cơ sở tổ chức họp tại cộng đồng dân cư nơi người được hưởng án treo cư trú, làm việc để kiểm điểm người đó; trường hợp người được hưởng án treo đang làm việc tại đơn vị quân đội thì việc kiểm điểm được thực hiện tại đơn vị quân đội nơi người đó làm việc.

- Điều 92 đã bổ sung người được hưởng án treo nếu bị xử phạt vi phạm hành chính cũng là cơ sở để thực hiện kiểm điểm họ. Việc kiểm điểm phải được lập thành biên bản, lưu hồ sơ giám sát, giáo dục và báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu.

Quy định này góp phần xử lý kịp thời những vi phạm nghĩa vụ, vi phạm hành chính của người được hưởng án treo, phòng ngừa người được hưởng án treo phạm tội mới trong thời gian thử thách; đồng thời cơ quan được giao giám sát, giáo dục và các cơ quan, tổ chức phối hợp giám sát, giáo dục ở cơ sở xác định nguyên nhân để có biện pháp phù hợp chấn chỉnh, khắc phục những vi phạm của người được hưởng án treo.

8. Giải quyết việc vắng mặt tại nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc của người được hưởng án treo (Điều 92)

Điều 92 đã bổ sung thêm quy định:

- Người được hưởng án treo có thể vắng mặt tại nơi cư trú nếu có lý do chính đáng và phải có đơn xin phép và được sự đồng ý của UBND cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục, phải thực hiện khai báo tạm vắng theo quy định của pháp luật về cư trú.

- Người được hưởng án treo vì lý do chính đáng mà phải thay đổi nơi cư trú, nơi làm việc thì phải làm đơn có xác nhận củaUBND cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý gửi cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, Cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu giải quyết trong vòng 15 ngày làm việc. Người được hưởng án treo được xem xét, giải quyết thay đổi nơi cư trú nếu đảm bảo các điều kiện sau:

+ Bảo đảm các yêu cầu theo quy định của pháp luật về cư trú.

+ Được sự đồng ý của Cơ quan thi hành án hình sự các cấp theo quy định.

- Để đảm bảo quản lý, giám sát, giáo dục người được hưởng án treo, khoản 4 Điều 92 đã bổ sung quy định người được hưởng án treo không được xuất cảnh trong thời gian thử thách.

9. Về xử lý vi phạm đối với người được hưởng án treo (Điều 93)

Đối với các trường hợp người được hưởng án treo vi phạm nghĩa vụ là nội dung mới được bổ sung trong Bộ luật hình sự 2015, hệ quả pháp lý được quy định: trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Cụ thể như sau:

1. Trường hợp người được hưởng án treo vi phạm nghĩa vụ quy định tại khoản 1 Điều 87 của Luật này thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu lập biên bản vi phạm, đồng thời yêu cầu người được hưởng án treo phải có mặt trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày lập biên bản vi phạm. Hết thời hạn này mà người được hưởng án treo vẫn không có mặt thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu lập biên bản vi phạm và đề nghị Tòa án nhân dân cấp huyện nơi người được hưởng án treo cư trú, Tòa án quân sự khu vực nơi người được hưởng án treo làm việc quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo đã bị kiểm điểm theo quy định tại Điều 91 của Luật này nhưng sau khi kiểm điểm vẫn tiếp tục vi phạm và đã được nhắc nhở bằng văn bản mà vẫn cố ý vi phạm thì Công an cấp xã đề xuất Ủy ban nhân dân cấp xã báo cáo, đề nghị cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện tiến hành trình tự, thủ tục đề nghị Tòa án có thẩm quyền quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được báo cáo, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện lập hồ sơ đề nghị buộc chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo gửi Tòa án nhân dân cấp huyện để xem xét, quyết định, đồng thời gửi Viện kiểm sát cùng cấp. Hồ sơ bao gồm:

a) Văn bản đề nghị của cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện;

b) Báo cáo của Ủy ban nhân dân cấp xã được giao giám sát, giáo dục người được hưởng án treo về việc người được hưởng án treo vi phạm nghĩa vụ từ 02 lần trở lên;

c) Biên bản người được hưởng án treo vi phạm nghĩa vụ;

d) Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với người được hưởng án treo trong trường hợp người đó bị xử phạt vi phạm hành chính;

đ) Biên bản kiểm điểm người được hưởng án treo vi phạm nghĩa vụ;

e) Tài liệu khác có liên quan.

4. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo do đơn vị quân đội giám sát, giáo dục đã bị kiểm điểm theo quy định tại Điều 91 của Luật này nhưng sau khi kiểm điểm vẫn tiếp tục vi phạm và đã được nhắc nhở bằng văn bản mà vẫn cố ý vi phạm thì đơn vị quân đội giám sát, giáo dục lập biên bản vi phạm và đề nghị cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu tiến hành trình tự, thủ tục đề nghị Tòa án có thẩm quyền quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo, đồng thời gửi Viện kiểm sát quân sự cùng cấp. Hồ sơ bao gồm:

a) Văn bản đề nghị của cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu;

b) Báo cáo của đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục người được hưởng án treo về việc người được hưởng án treo vi phạm nghĩa vụ từ 02 lần trở lên;

c) Biên bản người được hưởng án treo vi phạm nghĩa vụ;

d) Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với người được hưởng án treo trong trường hợp người đó bị xử phạt hành chính;

đ) Biên bản kiểm điểm người được hưởng án treo vi phạm nghĩa vụ;

e) Tài liệu khác có liên quan.

5. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị, Chánh án Tòa án nhân dân cấp huyện, Chánh án Tòa án quân sự khu vực nơi người được hưởng án treo cư trú hoặc làm việc thành lập Hội đồng và tổ chức phiênhọp để xét, quyết định buộc chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Thành phần Hội đồng gồm 03 Thẩm phán; phiên họp có sự tham gia của Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp. Trường hợp hồ sơ phải bổ sung theo yêu cầu của Tòa án thì thời hạn mở phiên họp được tính từ ngày nhận được hồ sơ bổ sung.

Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định về việc buộc chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo, Tòa án phải gửi quyết định cho cá nhân, cơ quan quy định tại khoản 2 Điều 84.

6. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu phải làm thủ tục đưa người bị buộc chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo đi chấp hành án phạt tù. Trường hợp người bị Tòa án quyết định chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo bỏ trốn thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu làm thủ tục đề nghị cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền ra quyết định truy nã.

Trường hợp Tòa án không chấp nhận đề nghị buộc chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu lưu quyết định và các tài liệu có liên quan vào hồ sơ thi hành án treo và thông báo quyết định cho Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục người được hưởng án treo để tiếp tục giám sát, giáo dục.

10. Trách nhiệm giám sát, giáo dục của cơ quan, tổ chức và gia đình đối với người được hưởng án treo (Điều 94)

Luật thi hành án hình sự 2019 đã bổ sung trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, đơn vị quân đội trong việc giám sát, giáo dục đối với người được hưởng án treo. Điều 94 quy định:

1. Cơ quan, tổ chức có liên quan có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội trong việc giám sát, giáo dục người được hưởng án treo.

2. Gia đình người được hưởng án treo có trách nhiệm phối hợp trong việc giám sát, giáo dục và thông báo kết quả chấp hành án của người được hưởng án treo cho Ủy ban nhân dân cấp xã được giao giám sát, giáo dục khi có yêu cầu; phải có mặt tại cuộc họp kiểm điểm người được hưởng án treo theo yêu cầu của Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục.

Công an xã Cẩm Vũ 
In trang Quay lại Lên trên
Các tin khác
- Tuyển sinh Văn bằng 2 Đại học Phòng cháy chữa cháy (11/05/2020)
- Nhiều hoạt động chung tay phòng chống dịch corona(04/02/2020)
- Tuyên dương 3 học sinh "nhặt được của rơi, trả lại người mất"(30/10/2019)
- Sự ra đời của luật An ninh mạng, một số luận điệu xuyên tạc, phản đối luật an ninh mạng và cách hiểu đúng về luật an ninh mạng (03/10/2019)
- Nuôi lợn bằng thảo dược – Mô hình mới độc đáo(27/06/2018)
++ THÔNG BÁO
+ Quyết định về việc phê duyệt kết quả tuyển dụng kỳ thi tuyển giáo viên ngành Giáo dục & Đạo tạo năm 2020
+ Thông báo lịch làm việc của Lãnh đạo UBND huyện từ ngày 06.7.2020-10.7.2020
+ Thông báo lịch làm việc của Lãnh đạo UBND huyện từ ngày 29.6.2020-03.7.2020
+ Xã Tân Trường - Thông báo tuyên truyên về an toàn giao thông
+ Xã Tân Trường Thông báo tuyên truyền phòng, chống tệ nạn ma túy
++ VIDEO HOẠT ĐỘNG
- Biểu dương khen thưởng học sinh giỏi năm học 2018 - 2019
- Giải bóng chuyền Bông lúa vàng huyện Cẩm Giàng tranh Cup Agribank năm 2019
- Hội phụ nữ Cẩm Giàng tổ chức giải bóng chuyền hơi
- Trao nhà Chữ thập đỏ cho hộ nghèo
- Giải tỏa vi phạm hành lang an toàn giao thông
1 2 3 4 5
++ AUDIO
- Chương trình phát thanh ngày 24.6.2020
- Chương trình phát thanh ngày 25.6.2020
- Chương trình phát thanh ngày 26.6.2020
- Chương trình phát thanh ngày 29.6.2020
- Chương trình phát thanh ngày 1.7.2020
< >
Lịch làm việc
Thư điện tử
Học tập và làm theo lời Bác
++ THỦ TỤC HÀNH CHÍNH
Bộ Thủ tục hành chính Huyện
TTHC Tỉnh Hải Dương
++ HỆ THỐNG VĂN BẢN
Văn bản ban hành của huyện
Văn bản ban hành của tỉnh
Văn bản QPPL
Công báo tỉnh Hải Dương
QUY HOẠCH - KẾ HOẠCH
Báo cáo kinh tế - xã hội
Quy hoạch
VĂN BẢN BAN HÀNH
Kết luận Thanh tra
Giải quyết đơn của công dân
Quyết định thu hồi đất
Chuẩn tiếp cận pháp luật xã, thị trấn
LƯỢT TRUY CẬP
Đang online: 142
Hôm nay 2,171
Tháng này: 17,185
Tất cả: 427,290
THƯ VIỆN ẢNH