Thông tin chỉ đạo, điều hành
Tài liệu tuyên truyền phòng, chống dịch bệnh gia súc, gia cầm trên địa bàn huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương
 

 

Trong những năm qua được sự quan tâm sâu sắc của các cấp, các ngành từ Trung ương đến cơ sở cùng với sự nỗ lực của ngành Thú y và sự ủng hộ tích cực của người chăn nuôi, công tác phòng chống dịch bệnh cho gia súc, gia cầm trên địa bàn huyện Cẩm Giàng đã thu được những kết quả đáng khích lệ. Dịch bệnh gia súc, gia cầm đã được kiểm soát chặt chẽ, công tác tiêm phòng được duy trì tốt, do vậy các ổ dịch bệnh nguy hiểm xảy ra đều được phát hiện kịp thời và nhanh chóng được dập tắt không lây lan rộng, thiệt hại được khống chế tối đa.

Tuy nhiên, do quy mô chăn nuôi nhỏ lẻ, phân tán; Ý thức của người dân về chủ động phòng, chống dịch cho vật nuôi chưa cao; Chính quyền cơ sở ở một số nơi chưa thật sự quan tâm đúng mức đến hoạt động và tầm quan trọng của công tác Thú y trong phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm. Hiệu quả hoạt động của mạng lưới Thú y cơ sở còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ; Cơ sở vật chất phục vụ cho công tác phòng chống dịch còn nhiều thiếu thốn đã ảnh hưởng không nhỏ đến công tác phòng, chống dịch. Trong năm 2018 và đầu năm 2019 trên địa bàn đã xảy ra dịch Lở mồm long móng ở đàn lợn tại xã Cẩm Định, Cẩm Đoài, Cẩm Vũ, Cẩm Hoàng, Tân Trường...

Để nâng cao được nhận thức của người dân và các cấp ủy, chính quyền cơ sở trong việc tuyên truyền định hướng để người chăn nuôi thực hiện các biện pháp chăn nuôi an toàn, các dấu hiệu để phát hiện dịch bệnh, khai báo dịch kịp thời, để mọi người chủ động trong công tác phòng chống dịch. Phòng Nông nghiệp & PTNT biên soạn tài liệu tuyên truyền phòng, chống dịch bệnh gia súc, gia cầm trên địa bàn huyện Cẩm Giàng cụ thể như sau:

I.CÁC BỆNH PHẢI TIÊM PHÒNG BẮT BUỘC, CÁC BỆNH PHẢI BẮT BUỘC CÔNG BỐ DỊCH

1.Các bệnh phải tiêm phòng bắt buộc

Theo Quyết định số 63/2005/QĐ-BNN ngày 13/10/2005 của Bộ trưởng Bộ Nộng nghiệp và PTNT thì các bệnh sau đây phải tiêm phòng bắt buộc: Bệnh Lở mồm long móng; Bệnh Dịch tả lợn; Bệnh Nhiệt thán; Bệnh Tụ huyết trùng trâu bò, lợn; Bệnh Dại; Bệnh Niu cát xơn, Bệnh dịch tả vịt. Tỷ lệ tiêm phòng các bệnh trên phải đạt 100% gia súc, gia cầm trong diện tiêm.

2.Các bệnh phải bắt buộc công bố dịch

Theo Quyết định số 64/2005/QĐ-BNN ngày 13/10/2005 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT thì các bệnh sau đây khi xảy ra bắt buộc phải công bố dịch:

- Bệnh thuộc danh mục bảng A của Luật Thú y thế giới: Bệnh Lở mồm long móng; Bệnh Cúm gia cầm chủng độc lực cao (HPAI); Bệnh dịch tả lợn; Bệnh Dịch tả trâu bò; Bệnh Niu cát xơn; Bệnh Đậu dê và những bệnh khác thuộc bảng A của Luật Thú y thế giới khi xuất hiện ở Việt Nam.

- Bệnh thuộc danh mục bảng B của Luật Thú y thế giới: Bệnh Nhiệt thán; Bệnh Dại; Bệnh Tụ huyết trùng trâu bò, Bệnh bò điên.

II.ĐẶC ĐIỂM VÀ CÁCH PHÒNG, CHỐNG MỘT SỐ DỊCH BỆNH NGUY HIỂM

1.Bệnh lở mồm long móng (LMLM)

a) Đặc điểm dịch tễ

Bệnh LMLM là bệnh truyền nhiễm, lây lan nhanh, gây ra bởi 1 trong 7 type vi rút: Type A, O,C, Asia 1, SAT1, SAT2, SAT3, với hơn 60 phân type.Ở Việt Nam đã phát hiện bệnh gây ra bởi 3 type, O và Asia 1. Động vật mắc bệnh LMLM là các loài động vật có móng guốc chẵn như: trâu, bò, lợn, dê, cừu, hươu, nai....

Bệnh LMLM lây lan qua đường tiếp xúc giữa động vật khỏe với động vật ốm, sản phẩm động vật, thức ăn, nước uống, không khí, chất thải, dụng cụ, phương tiện vận chuyển, có mang mầm bệnh. Bệnh lây lan từ vùng này sang vùng khác, tỉnh này sang tỉnh khác, nước này sang nước khác theo đường vận chuyển động vật, sản phẩm động vật ở dạng tươi sống (kể cả thịt ướp đông, da, xương, sừng, móng, sữa, lông...). Theo Tổ chức Thú y thế giới (OIE), đây là bệnh dịch xếp đầu tiên ở bảng A (gồm các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm nhất cho chăn nuôi và hạn chế thương mại đối với động vật, sản phẩm động vật).

b) Triệu chứng

Con vật mệt mỏi, ủ rũ, lông dựng, sốt 41 - 420C kéo dài trong 2 - 3 ngày; Xuất hiện các mụn nước ở niêm mạc miệng, lưỡi, lợi, môi, sau vài ngày mụn nước vỡ ra làm cho mồm bị loét, dịch viêm từ các mụn nước hòa với nước dãi liên tục chảy ra giống như bọt xà phòng; Trong mũi xuất hiện nhiều mụn nước, nước mũi chảy ra có mùi hôi thối; Ở chân nhất là xung quanh vành móng có rất nhiều mụn nước làm thành những vết loét, làm móng bị bong ra; Vú cũng xuất hiện nhiều mụn nước nhỏ, toàn bộ vú bị sưng, da vú tấy đỏ và rất đau. Gia súc đang nuôi con sợ cho con bú vì bị đau, lượng sữa bị cạn dần.

c) Phòng bệnh

Tiêm phòng vắc xin bắt buộc cho đàn trâu, bò, lợn, dê theo đúng quy trình:

- Đối với trâu, bò: Tiêm lần đầu cho bê, nghé từ 2 tuần tuổi trở nên và tiêm nhắc lại sau 4 tuần. Sau đó cứ 6 tháng lại tiêm nhắc lại một lần.

- Đối với lợn: Tiêm lần đầu cho lợn từ 2 tuần tuổi trở lên và tiêm nhắc lại sau 4 tuần, sau đó cứ 6 tháng tiêm nhắc lại một lần cho lợn nái và đực giống.

- Đối với dê: Tiêm lần đầu cho bê, nghé từ 2 tuần tuổi trở nên và tiêm nhắc lại sau 4 tuần. Sau đó cứ một năm lại tiêm nhắc lại một lần.

d) Chữa bệnh

Không có thuốc chữa trị đặc hiệu. Công tác hộ lý rất quan trọng để làm nhẹ bớt hậu quả của bệnh: Nhốt gia súc ở nơi khô, sạch; Cho ăn thức ăn mềm, ngon; Xử lý mụn loét bằng: Thuốc sát trùng nhẹ: dấm chua, phèn chua, thuốc tím 1% xanh Mêthylen 1%, Nước quả chua: chanh, khế...Lá chát đắng: là chè tươi, lá ổi, lá sim. Khoảng 2 - 3 tuần sau vết loét sẽ khỏi (nếu không bị nhiễm trùng).

2. Bệnh Tụ huyết trùng (THT) trâu bò

a) Đặc điểm dịch tễ

Bệnh THT trâu, bò là bệnh truyền nhiễm cấp tính do vi khuẩn gây ra với thể hiện đặc trưng là tụ huyết trùng và xuất huyết ở các vùng đặc biệt trên cơ thể. Vi khuẩn vào máu gây nhiễm trùng máu, thể nặng gọi là bại xuất huyết trâu bò. Bệnh có thể lây từ trâu bò sang lợn và ngựa.

Bệnh phân bố khắp nơi trên thế giới ở các vùng nóng ẩm và xảy ra rải rác quanh năm. Ở nước ta bệnh xảy ra ở khắp các vùng thường tập trung vào mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10, vùng sau lũ, lúc khí hậu nóng ẩm và những lúc giao mùa thời tiết thay đổi đột ngột, sức đề kháng gia súc bị suy giảm. Đường lây bệnh chủ yếu là do thức ăn chứa mầm bệnh hoặc qua đường hô hấp, da bị sây sát. Trâu mắc bệnh nhiều và nặng hơn bò, thường chết do bệnh thể quá cấp. Gia súc non đang bú mẹ ít mắc bệnh hơn gia súc trưởng thành, gia súc 2 - 3 tuổi dễ mắc bệnh hơn gia súc già.

b) Triệu chứng

- Bệnh có thể phát ra đột ngột: Trong đàn trâu, bò có con đột nhiên hung dữ, lồng lên, lăn ra rồi giãy giụa chết.

- Sốt 40 - 410C, ủ rũ, không nhai lại; Chướng hơi dạ cỏ; Niêm mạc đỏ ửng, sau chuyển sang tái xám; Chảy nước mắt, nước mũi; Sưng phù vùng hầu, thở khó, thè lưỡi, vươn cổ ra để thở, chảy nhiều nước dãi; Bệnh tiến triển từ vài giờ.

c) Phòng bệnh

- Vệ sinh phòng bệnh: Nuôi dưỡng chăm sóc tốt để tăng sức đề kháng của trâu bò; Cách ly những con mới nhập về ít nhất là một tuần; Thường xuyên quét dọn vệ sinh chuồng trại; Thu gom phân đem ủ, rác thải đem đốt.

- Khi dịch bệnh xảy ra: Cách ly ngay những con ốm về để điều trị, vệ sinh tiêu độc chuồng trại, không dùng thịt trâu bò ốm, chết bệnh.

- Tiêm phòng vắc xin: tiêm phòng 6 tháng 1 lần. Liều dùng theo hướng dẫn của nhà sản xuất.

d) Chữa bệnh

Phát hiện bệnh kịp thời và điều trị sớm bằng thuốc kháng sinh phù hợp, kết hợp với thuốc trợ lực trợ sức thì mới có hiệu quả cao.

3. Bệnh nhiệt thán

a) Đặc điểm dịch tễ

- Động vật cảm nhiễm: trâu, bò, lợn, ngựa, dê, cừu....

- Đường xâm nhập qua đường tiêu hóa (chủ yếu), qua vết thương, vết trầy, sát trên da. Người mắc bệnh nhiệt thán chủ yếu là do ăn thịt da súc bị. Gia súc thường bị mắc bệnh quanh năm, nhưng thường phát sinh vào các tháng nóng ẩm, mưa nhiều (tháng 7, 8, 9). Bệnh hay xảy ra vào mùa khô hanh, ở nước ao tù bị cạn, tập trung nhiều nha bào nhiệt thán.

b) Triệu chứng

Bệnh tiến triển và chết rất nhanh, xác chết trương phình. Ở miệng, hậu môn, âm hộ thường có máu tím hay đỏ sẫm hay màu đen chảy ra và máu không đông, các lỗ chân lông rớm máu (rất nhiều ruồi bâu). Tỷ lệ chết có thể tới 100%.

c) Phòng bệnh

- Sử dụng vắc xin nha bào nhiệt thán để tiêm phòng mỗi năm một lần ở những nơi xảy ra dịch trong thời gian 10 năm trở lại.

- Xác chết phải thiêu, tro phải chôn sâu, tuyệt đối không được mổ khám xác chết bị bệnh nhiệt thán.

- Người không có trách nhiệm không được tiếp xúc, không được ăn thịt thú bệnh...Người tiếp xúc với thú bệnh phải sát trùng thật kỹ để tránh mang mầm bệnh.

d) Trị bệnh

Điều trị gia súc mắc bệnh bằng huyết thanh và kháng sinh, việc điều trị chỉ hiệu quả khi mới phát hiện bệnh.

4. Bệnh dịch tả lợn (DTL)

a) Đặc điểm dịch tễ

Bệnh DTL là bệnh truyền nhiễm của loài lợn (kể cả lợn nhà và lợn rừng), gây ra bởi một loại vi rút có tốc độ lây lan rất nhanh và tỷ lệ chết đến 90%, thường ghép với các bệnh khác như bệnh Phó thương hàn, Tụ huyết trùng, Đóng dấu lợn, bệnh do Mycoplasma.

Bệnh thường lây trực tiếp từ con ốm sang con khỏe, qua thức ăn, nước uống, gián tiếp qua các chất bài tiết, dụng cụ chăn nuôi, phương tiện vận chuyển hay do các động vật khác mang mầm bệnh truyền lây.

Hiện nay bệnh DTL vẫn là mối đe dọa nguy hiểm cho ngành chăn nuôi lợn ở nhiều nước trên thế giới. Ở nước ta cho đến nay bệnh vẫn còn tồn tại và xảy ra rải rác ở những nơi có lợn không được tiêm phòng là mối đe dọa lớn đối với ngành chăn nuôi lợn, gây khó khăn cho việc chăn nuôi thương phẩm và xuất khẩu

b) Triệu chứng

Thời kỳ ủ bệnh kéo dài từ 6 - 8 ngày. Bệnh xuất hiện ở 3 thể:

- Bệnh phát rất nhanh. Lợn đang khỏe tự nhiên bỏ ăn, ủ rũ, sốt cao 40 - 420C xuất hiện những nốt ửng đỏ lên rồi tím nhạt ở vùng da mỏng phía trong đùi, dưới bụng. Lợn giãy giụa một lúc rồi chết chỉ trong vong 1 - 2 ngày.

- Thể cấp tính: Sốt cao 42-20C trong 4-5 ngày liền, không ăn. Mắt có dử, ho, khó thở, nôn mửa nhiều lần. Phân lúc đầu táo, sau chuyển sang lỏng, màu xám hoặc màu xám vàng, có mùi tanh khắm; Có những nốt tụ huyết lấm tấm đỏ như muỗi đốt, tập trung thành từng đám, xuất huyết ở nhiều vùng da mỏng như bụng, bẹn đùi và hai tai. Lợn chết sau 3 - 4 ngày.

- Thể mãn tính: Lợn gầy yếu, phân lúc đầu đi táo, sau đi lỏng, có mùi thối khắm, da tụ huyết trùng và xuất từng mảng đỏ thẫm. Bệnh kéo dài 1- 2 tháng, lợn kiệt sức và chết.

c) Phòng bệnh

- Tiêm phòng vắc xin là biện pháp tốt nhất để phòng bệnh.

- Vệ sinh chuồng trại sạch sẽ; Cách ly kịp thời những con biểu hiện mắc bệnh; báo cán bộ thú y đến kiểm tra hoặc gửi mẫu lợn ốm đi kiểm tra.

d) Trị bệnh

- Hiện tại chưa có thuốc nào điều trị đặc hiệu cho bệnh này.

5. Bệnh Tai xanh (TX)

a) Đặc điểm dịch tễ

Bệnh TX còn gọi là hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp (PRRS) là bệnh truyền nhiễm và cấp tính nguy hiểm ở lợn mọi lứa tuổi, bệnh lây lan nhanh, làm ốm và có thể gây chết nhiều lợn. Lợn nhiễm bệnh TX thường bị suy giảm miễn dịch, do đó tạo điều kiện cho nhiều loại dịch bệnh khác kế phát như Dịch tả lợn, Phó thương hàn, Tụ huyết trùng, E. Coli, Liên cầu khuẩn, Mycoplasma, ....đây là những nguyên nhân kế phát gây chết nhiều lợn bệnh, gây ra những tổn thất lớn về kinh tế cho người chăn nuôi. Hiện nay bệnh này đã lây lan và trở thành dịch địa phương ở nhiều nước trên thế giới, kể cả các nước có ngành chăn nuôi lợn phát triển. Ở Việt Nam, bệnh TX đã xuất hiện tại nhiều địa phương, gây thiệt hại nghiêm trọng về kinh tế, ảnh hưởng đến an sinh xã hội.

Vi rút có thể phát tán, lây lan thông qua các hình thức: trực tiếp: tiếp xúc với lợn mắc bệnh, lợn mang trùng, phân, nước tiểu, bụi, bọt nước, thụ tinh nhân tạo và có thể do lợn rừng; gián tiếp: dụng cụ chăn nuôi, phương tiện vận chuyển và công cụ bảo hộ lao động mang trùng.

Việc tiêm phòng vắc xin chỉ hạn chế được bệnh chứ không thể khống chế hoàn toàn được dịch bệnh, ngay cả những nước chăn nuôi tiên tiến trên thế giới, cho dù vắc xin có cùng chủng vi rút gây bệnh. Hiện nay ở nước ta được phép sử dụng 4 loại vắc xin nhập ngoại, nhưng chưa có hiệu nghiệm thật sự, cho nên Bộ Nông nghiệp Và PTNT chưa cho phép sử dụng để tiêm phòng đại trà hàng năm mà chỉ khuyến cáo sử dụng khi có dịch bệnh xảy ra.

b) Triệu chứng

- Ở lợn nái: Đầu tiên khi bị nhiễm bệnh: biếng ăn, sốt 40 - 410C, có một số con tai chuyển sang màu xanh trong thời gian ngắn, tím đuôi, tím âm hộ. Tiếp đó là hiện tượng xảy thai đẻ non, thai chết lưu, thai gỗ hàng loạt. Lợn con đẻ ra yếu ớt tỷ lệ tử vong cao có thể lên tới 70%. Trong giai đoạn nuôi, lợn con thường biếng ăn, lười uống nước, viêm tử cung, viêm vú, mất sữa nếu bệnh kéo dài và sẽ kế phát nhiều bệnh ghép dẫn đến tử vong.

- Lợn con theo mẹ: Thể trạng gầy yếu, không bú được, mắt có dử màu nâu, sưng mí mắt và các vùng quanh mắt, trên da xuất hiện những đám phồng rộp, tiêu chảy, chân roãi ra, đi run rẩy, lợn con rất dễ mắc các bệnh kế phát và tỷ lệ tử vong cao.

- Lợn đực giống: Bỏ ăn, sốt cao, đờ đẫn hoặc hôn mê, viêm dịch hoàn, giảm hưng phấn hoặc mất tính dục.

c) Phòng bệnh

- Mua con giống ở những nơi có uy tín, nguồn gốc rõ ràng, tiêm phòng đầy đủ các loại vắc xin: Dịch tả, tụ huyết trùng, chăm sóc nuôi dưỡng tốt.

- Khi thấy lợn trong gia đình có những biểu hiện bất thường, bị bệnh thì phải báo ngay cho chính quyền cơ sở, nhân viên thú y xã biết để nhận được sự hướng dẫn, hỗ trợ phòng chống dịch bệnh; đồng thời chấp hành nghiêm túc các biện pháp phòng, chống dịch theo quy định.

d) Trị bệnh

Hiện nay vẫn chưa có loại thuốc nào điều trị đặc hiệu loại bệnh này. Có thể dùng một số thuốc tăng cường sức đề kháng, điều trị triệu chứng và chủ yếu là ngăn ngừa nhiễm bệnh kế phát.

6. Bệnh Tụ huyết trùng (THT) lợn

a) Đặc điểm dịch tễ

Bệnh THT lợn do vi khuẩn gây ra là bệnh truyền nhiễm cấp tính, bệnh tiến triển nhanh, nặng với các triệu chứng sốt cao, viêm phổi, rối loạn hô hấp, bại huyết nếu không điều trị kịp thời thì tỷ lệ chết rất cao.

Trong thiên nhiên lợn ở các lứa tuổi đều mắc bệnh, nhưng lợn từ 3 - 6 tháng tuổi là dễ mắc bệnh nhất. Vi khuẩn có sẵn trong môi trường hoặc khu trú ở hệ hô hấp lợn. Khi nuôi dưỡng không tốt, sức đề kháng gia súc yếu hoặc khi thời tiết thay đổi đột ngột, vi khuẩn tấn công và gây bệnh. Bệnh lây lan trực tiếp từ lợn ốm sang lợn khỏe, hoặc gián tiếp thông qua thức ăn, nước uống, dụng cụ chăn nuôi, chim trời, chó mèo, loài gặm nhấm.... Ở ổ dịch tụ huyết trùng lợn thì chó, gà, vịt có thể lây bệnh mà chết.

b) Triệu chứng

- Lợn sốt cao 41 - 420C, bỏ ăn đột ngột, mắt đỏ kèm theo ho, chảy nước mũi, miệng sùi bọt mép màu hồng, phù thũng da nổi mụn đỏ, tai tím tái. Vùng da mỏng xuất hiện xuất huyết, tụ huyết.

c) Phòng bệnh

- Tiêm phòng vắc xin tụ huyết trùng lợn một năm hai lần

- Giữ chuồng trại sạch sẽ, khô ráo, thường xuyên tiêu độc khử trùng triệt để. Tuyệt đối không mua lợn mắc bệnh về nuôi.

d) Trị bệnh

Dùng các loại kháng sinh phù hợp để điều trị kết hợp với thuốc trợ lực trợ sức.

7. Bệnh dại

a) Đặc điểm dịch tễ

Bệnh dại là một bệnh truyền nhiễm cấp tính do vi rút gây bệnh ở động vật và người, gây nên những cái chết với triệu chứng rất thảm khốc. Nguồn mang mầm bệnh chủ yếu là chó (90%), mèo nuôi (5%) và động vật hoang dã. Khi động vật mắc bệnh dại cào, cắn, liếm vào người, vi rút từ nước bọt sẽ lây truyền qua da và niêm mạc bị tổn thương. Vi rút xâm nhập vào cơ thể được nhân lên và hướng tới hệ thần kinh, phá hủy mô thần kinh, gây nên những kích động điên dại và kết thúc bằng cái chết.

b) Triệu chứng

- Thể điên cuồng: Lên cơn điên dữ dội, mắt đỏ ngầu, chảy nước dãi trắng như bọt xà phòng quanh mép. Cắn xé tàn bạo đồng loại, người (kể cả chủ), nhai nuốt bất kể vật gì nhìn thấy, sủa có tiếng khàn hay rú man rợ từng hồi. Mất cảm giác, sợ nước sợ gió. Vài ngày sau chó bỏ nhà đi hay nằm lì ở xó tối chờ chết với xác gầy, kiệt sức, bại liệt, trên mình có nhiều vết thương do nó tự cắn xé. Chó chết sau 2 - 5 ngày.

- Thể bại liệt: Ngơ ngác, bồn chồn, ăn ít hay bỏ ăn, lặng lẽ chui vào xó tối nằm lì. Liệt chân, liệt hàm không tự há mồm ra được nhưng nước bọt vẫn chảy quanh mép. Chó chết từ 3 - 5 ngày trong trạng thái bại liệt hoàn toàn. Thể dại này rất nguy hiểm đối với con người.

c) Biện pháp phòng chống bệnh dại

- Hạn chế nuôi chó.

- Chó, mèo nuôi phải được tiêm phòng vắc xin dại 1 năm 1 lần, vắc xin vô hoạt tế bào để tiêm cho chó mèo mọi lứa tuổi rất an toàn và có hiệu lực rất cao.

- Tại các gia đình nuôi chó phải xích, nhốt, không được thả rông.

- Khi bị chó, mèo cắn phải đến ngay cơ sở y tế để tiêm phòng dại kịp thời, đầy đủ và đồng thời giữ con vật để báo với cơ quan thú y gần nhất để theo dõi.

- Khi bị chó, mèo cắn không được điều trị bằng thuốc nam để khỏi bị chết oan.

8. Bệnh cúm gia cầm (H5N1)

a) Đặc điểm dịch tễ

Bệnh cúm gia cầm (H5N1) thể độc lực cao là một bệnh truyền nhiễm cấp tính rất nguy hiểm đối với gà, vịt, ngan, ngỗng, gà tây, đà điểu, chim cút, chim cảnh, chim hoang dã, người cũng bị mắc cúm gia cầm. Bệnh do một loài vi rút gây ra, với đặc điểm lây lan rất nhanh và tỷ lệ chết rất cao trong vòng 24 - 48 giờ sau khi nhiễm vi rút, gây thiệt hại lớn về kinh tế do phải tiêu hủy gia cầm trong vùng dịch và các chi phí chống dịch khác.

Bệnh truyền lây trực tiếp giữa con mắc bệnh và con khỏe; lây gián tiếp thông qua không khí, phương tiện vận chuyển, dụng cụ chăn nuôi, thức ăn, nước uống, phân rác hoặc tay chân, giầy dép của người tiếp xúc với gia cầm bị bệnh...

b) Triệu chứng

Biểu hiện mệt mỏi ủ rũ, nằm tụm lại một chỗ và rất nhanh chết, chảy nước dãi dính có mùi tanh, sưng phù đầu và vùng quanh mí mắt, xuất huyết ở chân, có triệu chứng thần kinh...

c) Phòng chống dịch

- Chống dịch: Phát hiện sớm báo cáo kịp thời cho cán bộ thú y và chính quyền địa phương; Không đưa gia cầm và sản phẩm gia cầm ra ngoài vùng có dịch; Tiêu hủy gia cầm chết mắc bệnh và toàn bộ gia cầm khỏe trong phạm vi khu dân cư, thôn, tiểu khu có dịch; Vệ sinh khử trùng tiêu độc chuồng trại; Tiêm phòng bao vây xung quanh ổ dịch 5km.

- Vệ sinh tiêu độc ổ dịch: Quét dọn, thu gom tiêu hủy phân rác chất độn chuồng; Rửa sạch dụng cụ, chuồng nuôi, để khô sau đó phun, rửa bằng các chất sát trùng thích hợp như nước vôi 10 - 20%, xút 2 - 3%, Formon 2 - 3%, Crezin 5%...tiến hành 3 lần/tuần. Rắc vôi bột xung quanh chuồng trại và môi trường xung quanh; Nước rửa chuồng trại phải được sử lý trước khi đưa ra ngoài bằng cách cho vôi vào sao cho đạt nồng độ 10%.

- Cách tiêu hủy gia cầm: Hố chôn gia cầm phải đảm bảo bề mặt gia cầm chôn cách mặt đất ít nhất là 1m, đáy thành hố được lót bằng nilon, gia cầm tiêu hủy phải đựng trong bao dầy có chứa chất sát trùng sau đó đưa xuống hố, trước khi lấp đất phải rắc 1 lớp vôi bột lên trên hoặc phun các chất khử trùng. Đốt dưới hố bằng củi, than hay dầu sau đó lấp đất lại.

Tất cả những người tiếp xúc với gia cầm phải có lớp trang bị bảo hộ lao động như quần áo, mũ, ủng, kính, gang tay, khẩu trang... để tránh nhiễm bệnh

- Đối với người kinh doanh gia cầm và sản phẩm gia cầm: Chỉ được phép vận chuyển gia cầm từ vùng không có dịch bệnh và phải có giấy chứng nhận kiểm dịch hợp lệ của cơ quan thú y; Việc vận chuyển gia cầm sống phải bằng phương tiện đảm bảo không để rơi vãi chất thải ra môi trường bên ngoài; Không bán chạy gia cầm bị bệnh, không vứt xác chết bừa bãi; Không đưa gia cầm và sản phẩm gia cầm ra ngoài ổ dịch; Phải sử dụng phương tiện bảo hộ lao động khi tiếp xúc với gia cầm.

- Người tiêu dùng: Mua và sử dụng sản phẩm gia cầm đã được cơ quan thú y kiểm tra; Không mua, không mổ thịt, không ăn thịt gia cầm mắc bệnh, tuyệt đối không chế biến và ăn tiết canh các loại gia cầm.

9. Bệnh Niu cát xơn (NCX)

a) Đặc điểm dịch tễ

Bệnh NCX là bệnh truyền nhiễm nguy hiểm ở loài gia cầm (gà, các loại chim) do một loài vi rút gây ra, ở mọi lứa tuổi đều có thể mắc bệnh, bệnh thường ghép với nhiều bệnh gia cầm khác gây ra tỷ lệ chết cao, gây thiệt hại kinh tế lớn. Đàn gia cầm chưa được phòng bệnh bằng vắc xin thì khi nhiễm bệnh có thể chết đến 100%.

Vi rút NCX thường lây qua đường tiếp xúc trực tiếp giữa gia cầm mắc bệnh và gia cầm khỏe mạnh hoặc có thể lây truyền qua xác gia cầm bị bệnh chết, vỏ trứng, dụng cụ chăn nuôi, thức ăn nước uống, chất thải chăn nuôi, ủng hoặc quần áo của người chăn nuôi có mang mầm bệnh.

b) Triệu chứng

Gà ủ rũ, xõa cánh (trông giống người khoác áo tơi), gà mái ngẩn ngơ, gà trống tắt gáy; Diều gà sưng to do thức ăn tích lại không tiêu hóa được; Gà đi ỉa chảy, phân trắng hay xanh thường có lẫn nhớt; Mào, yếm gà bị ử máu tím bầm (do thở khó); khó thở thường kêu toóc toóc, chân khô và lạnh, cầm chân dốc ngược có nước chảy ra đằng mồm, nước có mùi chua, khắm; Nhiều con xuất hiện trạng thái thần kinh: đi quay vòng, cổ quẹo, mổ không trúng thức ăn.

c) Phòng bệnh

Gà khi mắc bệnh NCX thì không có thuốc chữa. Để tránh bệnh NCX chỉ có phòng bệnh. Phương pháp phòng chủ yếu là dùng vắc xin; Nhỏ vắc xin La sô ta vào mắt, mũi, miệng cho gà con dưới 2 tháng tuổi, tuổi bắt đầu vào ngày thứ 5 hoặc 7 sau khi nở; Tiêm vắc xin Niu cát xơn hệ 1 cho gà sau 2 tháng tuổi (từ ngày thứ 61 trở đi); Không bán chạy gà bệnh, không vứt xác gà chết bừa bãi ra sông suối...mà phải đem chôn.

d) Trị bệnh

Hiện nay vẫn chưa có thuốc điều trị đặc hiệu bệnh này.

III. CÁC GIẢI PHÁP VỀ KỸ THUẬT TRONG CÔNG TÁC PHÒNG, CHỐNG DỊCH

1. Các giải pháp phòng dịch

- Tăng cường kiểm soát chặt chẽ việc vận chuyển, buôn bán, giết mổ gia súc, gia cầm và các sản phẩm gia súc, gia cầm; xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm theo quy định của pháp luật.

- Tiêm phòng bắt buộc các loại vắc xin phòng bệnh phải đạt tỷ lệ 100% gia súc, gia cầm trong diện tiêm hoặc 80% tổng đàn trở lên.

- Tuyên truyền vận động thực hiện các biện pháp chăn nuôi an toàn sinh học như: chọn giống vật nuôi rõ nguồn gốc xuất xứ, mua động vật về nuôi phải cách ly ít nhất 7 - 14 ngày trước khi nhập đàn; chuồng trại sạch sẽ; thường xuyên vệ sinh tiêu độc khử trùng chuồng trại và dụng cụ chăn nuôi...

1. Các giải pháp chống dịch

- Tăng cường kiểm tra, giám sát dịch bệnh đến tận bản (tổ, tiểu khu) hộ, trang trại chăn nuôi nhằm phát hiện sớm dịch bệnh để nhanh chóng bao vây, dập tắt không để dịch lây lan ra diện rộng.

- Tuyên truyền, vận động người chăn nuôi thực hiện “5 không”:

+ Không giấu dịch.

+ Không mua gia súc, gia cầm mắc bệnh và sản phẩm gia súc, gia cầm mắc bệnh về tổ, bản, tiểu khu.

+ Không bán chạy gia súc, gia cầm mắc bệnh.

+ Không thả rông, không tự vận chuyển gia súc, gia cầm mắc bệnh ra khỏi vùng dịch.

+ Không vứt xác gia súc, gia cầm nghi mắc bệnh bừa bãi./.

 

                                                                Vương Đức Dũng

                                                       Phòng Nông nghiệp & PTNT

 
Các bài liên quan
Chỉ thị tập trung triển khai ngăn chặn bệnh dịch tả châu phi xâm nhiểm vào địa bàn huyện (25/02/2019)
Kế hoạch xét tuyển công chức Trưởng Công an, Chỉ huy QS cấp xã 2019 (19/02/2019)
Thông báo xét tuyển công chức Trưởng Công an, Chỉ huy trưởng QS cấp xã 2019 (19/02/2019)
Lễ hội văn hóa Du lịch xứ Đông – Chào đón năm mới 2019 (25/12/2018)
Thông báo Lịch nghỉ Lễ, Tết 2019 (05/12/2018)
 
Quay lại Xem tiếp   
 

Thông tin về Cẩm Giàng

VIDEO
Get the Flash Player to see this player.
 
LIÊN KẾT WEBSITE
 
 
LƯỢT TRUY CẬP
 
 
  Hôm nay 384  
  Hôm qua 469
  Tuần này 853  
  Tất cả 691043  
IP: 34.201.121.213